Quán cơm, ghe bầu và ngựa trạm

Ở đầu cầu Trà Khúc, bên bờ bắc có một địa danh ngày xưa gọi là Quán Cơm. Cái Quán Cơm ấy chắc hẳn đã có từ xa xưa lắm, cái thời giao thương đường thủy rất thịnh hành ở Quảng Ngãi.

Tôi hỏi nhà báo Trần Đăng, quê Sơn Tịnh, anh cũng xác định là Quán Cơm xưa nằm ngay vấp ngã ba đường cái quan (Quốc lộ 1 bây giờ) và đoạn đường đất nhỏ dẫn xuống Tịnh Khê – Sơn Mỹ.

Cái Quán Cơm ấy, chắc hẳn đã có từ xa xưa lắm, cái thời giao thương đường thủy rất thịnh hành ở , còn trên đường thiên lý (cũng là Quốc lộ 1 bây giờ) thì lại có hệ thống Trạm, là đoạn đường vận chuyển công văn hồ sơ của triều đình và ttừ hư tới các địa phương trong cả nước. Có thể hình dung, các Trạm là nơi “giao liên” đổi ngựa, đổi cả người trên “đoạn đường bưu chính” nghìn dặm. Vì thế, hệ thống Trạm thời nhà Nguyễn phquan ải được tính toán để nhị Trạm liền kề cách nhau một cung đường nhất định, tùy thuộc điều kiện địa lý, tùy cả những nơi có dân cư tương đối. Tôi nghĩ, chính hệ thống Trạm từ thời nhà Nguyễn đã là gợi ý tuyệt vời nhất để sau này trong cuộc kháng chiến chống Mỹ chúng ta có hệ thống Trạm và Binh trạm trên đường Trường Sơn. Cách vận hành của hệ thống Trạm trên Trường Sơn cơ phiên bản giống như cách vận hành của hệ thống Trạm trên đường thiên lý ngày xưa.

Trở lại với địa danh Quán Cơm. Chắc ngày xưa, đây là quán bán cơm (có thể kèm cả rượu?) cho khách đi đường, cả đường bộ và đường thủy. Thời Minh Mạng, hệ thống liên lạc đường thủy trong cả nước rất phát triển. Ở các tỉnh miền Trung như Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, đường thủy là đường giao thương kinh tế trung tâm. Dựa vào hình thế các con sông, triều đình tổ chức đào thêm rất nhiều kênh đào, sông máng liên kết các con sông, từ đó, giao thương đường thủy trở thành vô cùng tiện nghi. Hệ thống liên lạc thủy ấy còn tới cả sau Cách mạng Tháng Tám 1945. 

READ  Kỳ lạ loại dưa chuột vỏ vàng, gai xù xì, vị như chuối, chanh dây

Tôi còn nhớ, theo lời kể của thầy má tôi, thì sau Cách mạng Tháng Tám, tôi được sinh ra ở nhà thương Quảng Ngãi, nhưng sau bảy ngày nằm nhà thương, má con tôi được về quê trên con đò dọc chèo từ bến Tam Thương (sông Trà Khúc) về ngay trước cửa nhà tôi ở bến sông Thoa. Lại nữa, đầu những năm 1950, khi Pháp lăm le đổ bộ lên Quảng Ngãi, thế là gia đình tôi và gia đình ông Nguyễn Trí (đại biểu Quốc hội) lại được xuống con đò dọc chèo từ bến sông Thoa trước nhà tôi lên đập bến Thóc, qua sông Vệ rồi lên tận Nghĩa Hành. Đi tản cư bằng đò dọc, theo đường sông, nói thật, là rất thú vị. Tôi lúc ấy còn nhỏ, biết gì đâu, được “di biến động dân cư” như thế, coi như được đi du lịch bằng đường sông, cảm thấy thoquan ải mái lắm luôn.

Trở về với Quán Cơm bên sông Trà Khúc. Quán ấy bán cơm cho khách bộ hành trên đường cái quan, lại bán cơm cho khách ghe bầu chở hàng từ cửa Sa Kỳ ngược lên miền núi, rồi lại chở hàng từ  miền ngược về lại đồng bằng. “Mít non gởi xuống cá chuồn gởi lên” nhưng. Khi ghe bầu tới bến sông (bây giờ là nơi nằm của hotel Mỹ Trà), khách thương hồ sẽ ghé Quán Cơm ăn trưa hay ăn chiều gì đó, trước khi nhổ neo tiếp tục lên đường.

Quán cơm, ghe bầu và ngựa trạm - 1

Bến sông bờ bắc cầu Trà Khúc (TP. Quảng Ngãi). ẢNH: PV

Khi về già trở lại quê Cầu Đập, thầy tôi hay kể chuyện xưa. Ông kể, hồi kháng chiến chống Pháp, ông cùng chú thư ký là chú Trọng, nhị đồng minh mỗi người một xe đạp đi công việc tới tất cả các huyện, xã trong tỉnh. Có lần, mới 4 giờ sáng, nhị đồng minh đạp xe qua cầu Trà Khúc thì thầy tôi lên cơn sốt rét, không thể tiếp tục đi, đành ghé lại Quán Cơm. Ghé quán không phquan ải để ăn cơm, nhưng để nghỉ tạm cho qua cơn sốt. Nhưng lúc ấy còn sớm quá, quán chưa mở cửa, nhị đồng minh phquan ải ngồi phệt trước cửa quán để… thở. Chủ quán nghe ngoài cửa lục sục, ra mở cửa thì thấy nhị ông cán bộ đang bị sốt rét hành. Chủ quán vội mời nhị ông vào quán, nổi lửa cho hơ, nấu nước cho uống, nấu cháo cho ăn, nhị ông ngơi nghỉ một lúc, cơn sốt tạm lui, lại xin phép lên đường. Mỗi người một xe đạp lại rong ruổi trên đường thiên lý.

READ  Vẻ đẹp hoang sơ, kỳ vỹ của một trong những hang động lớn nhất thế giới

Quán Cơm là thế. Còn các Trạm “quân bưu” thì thế nào nhỉ? 

Tôi đã từng vượt Trường Sơn vào chiến trường Nam Bộ, đi bộ mất gần 4 tháng, nên tôi hình dung các Trạm giao liên ngày xưa chắc cũng hơi giống các Trạm giao liên trên Trường Sơn, chỉ khác một đàng là núi non phquan ải cuốc bộ, một đàng là Quốc lộ ngựa chạy nước kiệu được. Trên Trường Sơn thì giao liên đi bộ thồ hàng, còn các Trạm của triều đình thì giao liên đi ngựa, cũng chở công văn hồ sơ, chở cả trái cây tiến Vua, chạy tiếp sức từ trạm này sang trạm khác, qua mỗi trạm lại thay người thay ngựa, cứ thế tới đích sau rốt, nhưng trái cây vẫn còn tươi, công văn hồ sơ không hề mất mát. Chỉ thắc mắc một điều, không biết mỗi Trạm hồi xưa chỉ có ngựa phi đường xa, hay có cả xe ngựa để chở được nhiều hàng?

Chính từ hệ thống Trạm rất nổi tiếng ấy, nhưng sau này vẫn còn lại tên “Trạm” in dấu ở nhiều khu dân cư dọc đường số 1. Tại Quảng Ngãi cũng có một số tên “Trạm” còn lại tới bây giờ, như chợ Trạm, rồi dốc Trạm, rquan ải rác trên đường thiên lý.

Còn ghe bầu, một vô cùng đáng nhớ ở miền Trung, khác lạ là ở Quảng Ngãi, là phương tiện giao thương đường thủy “có thương hiệu” đã nghìn năm. Ghe bầu chuyển vận đủ thứ hàng của Quảng Ngãi tới mọi nơi trong nước. Tới cả nhiều hquan ải cảng quốc tế như Hồng Kông và xa hơn. Nhớ có lần, Sở Văn hóa – Thông tin Quảng Ngãi (nay là Sở VH-TT&DL) mời được nhà dân tộc học tầm cỡ trái đất là Georges Condominas (1921, Hquan ải Phòng – 2011, Paris) về thì thầm về dân tộc học.

READ  Ẩm thực miền Trung cần tạo thành chuỗi liên kết

Ông là nhà nghiên cứu văn hóa có uy tín trên trái đất trong các lĩnh vực dân tộc học và nhân chủng học. Trong câu chuyện ông Condominas nói hôm ấy, tôi nhớ ông bảo rằng, ngay từ thế kỷ thứ VI, Quảng Ngãi đã có những đoàn ghe bầu chở các sản vật Quảng Ngãi như quế Trà Bồng, kỳ nam, trầm hương và hồ tiêu, sau này thêm đường phèn, đường phổi, trực chỉ Hồng Kông, thậm chí sang cả vùng Trung Á, nơi tiêu thụ kỳ nam, trầm hương, quế chi và hồ tiêu nhiều nhất. Giao thương Quảng Ngãi có truyền Quán cơm, ghe bầu và ngựa trạm.

Nói thêm, ông Condominas sở dĩ có tình cảm với Quảng Ngãi, vì hồi Pháp thuộc, phụ vương của ông từng là trung úy trưởng đồn lính khố xanh ở Trà Bồng. Cha ông lại là nhà dân tộc học và nhân chủng học, tuy nghiệp dư nhưng những tài liệu và hiện vật ông sưu tầm được lại vô cùng phong phú. Tiếc thay, khi Nhật đảo chính Pháp, toàn bộ tài liệu và hiện vật ấy người Nhật đã cho tàu thủy chở cả về nước họ, ông Condominas chưa truy tìm lại được. 

Như thế, cả Quán Cơm, ghe bầu và Trạm giao liên bây giờ chỉ còn cái tên, những cái tên từng rất nổi tiếng. Thật đáng tiếc. Nếu bây giờ có họa sĩ nào hứng thú với lịch sử sưu tầm và vẽ lại những bức tranh về Quán Cơm, ghe bầu và ngựa Trạm, tôi tin chắc những tác phẩm này không chỉ rất thu hút, nhưng còn làm sống lại cả một thời oanh liệt của Quảng Ngãi ngày xưa. Mong lắm thay!

Theo Tkhô nóng Thảo

Báo Quảng Ngãi

About bachnv

Check Also

Đặc sản giống “con giun” khiến thực khách gọi liền lúc 30 đĩa cho bõ thèm

Dân trí Món ăn không có vẻ ngoài lôi cuốn nhưng rất được lòng …

Trả lời